Trở lại   Chợ thông tin Môi trường Việt Nam > TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG > TIN TỨC HÀNG NGÀY

 
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị

Mặc định Công nghiệp hỗ trợ trước những yêu cầu phát triển
  #1  
Cũ 21-08-2012, 10:16 AM
accap accap đang online
Junior Member
 
Tham gia ngày: Jun 2012
Bài gửi: 3

Hệ thống quảng cáo SangNhuong.com



Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được coi là chìa khóa để thúc đẩy công nghiệp phát triển, góp phần kiềm chế nhập siêu, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song, hiện tại, CNHT ở Việt Nam vẫn còn bị coi là thiếu và yếu, dẫn đến giá trị gia tăng thấp, nguy cơ một số doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sẽ rút khỏi Việt Nam để di chuyển đến những quốc gia có ngành CNHT tốt hơn… đang là những vấn đề đáng quan ngại. Trước thực trạng đó, phát triển CNHT ngày càng trở thành yêu cầu cấp bách.



Bất cập và thách thức

Năm 2010, ngành điện tử đạt kim ngạch xuất khẩu 3,4 tỷ USD, nhưng nhập khẩu lên tới trên 4,6 tỷ USD, trong số đó, nhập linh kiện về lắp ráp các sản phẩm chiếm trên 3 tỷ USD. Tất cả các sản phẩm điện tử lắp ráp tại Việt Nam (dùng để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước) phải nhập khẩu gần 100% linh kiện; các linh kiện sản xuất trong nước chỉ là vỏ carton, xốp chèn, vỏ nhựa, sách hướng dẫn... Đáng chú ý, cũng trong năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc lên đến 12,7 tỷ USD, trong đó, nhóm hàng hóa phục vụ sản xuất chiếm 55 - 60%, nhóm máy móc thiết bị chiếm 22 - 25%. Một ví dụ khác trong ngành xuất khẩu mũi nhọn là dệt may: để đạt được kim ngạch xuất khẩu 6,16 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2011, ngành này đã phải nhập khẩu tới 5,76 tỷ USD nguyên, phụ liệu, do đó, giá trị gia tăng tạo được chưa đầy 500 triệu USD.



Theo ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhiều thách thức đang đặt ra cho ngành CNHT của Việt Nam. Thứ nhất, nhiều tập đoàn sản xuất kinh doanh nước ngoài có doanh nghiệp lắp ráp ở Việt Nam cho biết, nếu không tiếp cận được nguồn cung tại chỗ theo lộ trình giảm thuế trong khuôn khổ hợp tác mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc, họ sẽ chuyển đến sản xuất ở những nước có ngành công nghiệp phụ trợ tốt hơn.



Thứ hai, theo ước tính của Bộ Công thương, nhiều ngành công nghiệp hiện nay đã lệ thuộc 80% nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu. Chẳng hạn, ngành ô tô mới nội địa hóa khoảng 5 - 10%, ngành xe máy cũng chỉ đạt 40 - 70%. Các liên doanh lắp ráp ô tô ở Việt Nam cho biết, nếu đến năm 2015, tỷ lệ nội địa hóa không đạt được khoảng 60%, thì nhiều khả năng họ cũng sẽ ra đi. Đó là sức ép rất lớn đối với Việt Nam nếu muốn duy trì ngành công nghiệp lắp ráp.



Thứ ba, đến nay, những nhà cung cấp linh kiện phụ tùng chủ yếu vẫn là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vẫn đang còn khoảng cách tiêu chuẩn chất lượng khá lớn giữa các nhà cung cấp linh kiện trong và ngoài nước. So với những sản phẩm tương tự sản xuất tại Trung Quốc và Thái Lan, tiêu chuẩn và chất lượng sản xuất tại Việt Nam chỉ đáp ứng được 50%. Trong lĩnh vực công nghệ cao như sản xuất máy tính, điện thoại di động, các thiết bị điện tử, hầu như nguyên liệu, phụ tùng đều phải nhập khẩu, Việt Nam chỉ sản xuất được 2 loại bao bì là bìa carton và vỏ nhựa của thiết bị.



Thứ tư, Việt Nam có rất ít những liên kết CNHT và cơ sở dữ liệu ngành vẫn chưa được chú ý, chưa có những cơ sở dữ liệu tin cậy, chưa tạo ra được chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng những dịch vụ tài chính, phi tài chính để khai thác các lợi thế cạnh tranh phục vụ cho phát triển những ngành công nghiệp này.



Vai trò quan trọng của CNHT



Ông Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách công nghiệp, Bộ Công thương đã điểm ra 8 vai trò quan trọng của CNHT. Thứ nhất, CNHT là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp, hay còn gọi là GDP công nghiệp hoặc giá trị mới cho công nghiệp. Thứ hai, CNHT là cơ sở để thực hiện hội nhập công nghiệp toàn cầu. Hội nhập quốc tế quan trọng là hội nhập ở thượng nguồn, tức là phối hợp với nhau trong quá trình tham gia sản xuất linh kiện, để tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu. CNHT chính là mắt xích quan trọng trong vấn đề này, chứ không phải công nghiệp lắp ráp - thuộc khâu hạ nguồn, không mang tính sản xuất và chế tạo. Thứ ba, CNHT là nơi sử dụng các công nghệ cao. Thứ tư, CNHT là trường học thực tiễn để đào tạo tay nghề. Lao động trong CNHT mới có cơ hội để sáng tạo, còn lắp ráp thì robot cũng có thể làm được. Thứ năm, CNHT góp phần chữa trị căn bệnh nhập siêu và giảm lạm phát. Thứ sáu, CNHT tạo ra một cơ hội để giữ gìn an ninh kinh tế. Chính CNHT mới thu hút được đầu tư nước ngoài và tạo tăng trưởng bền vững. Thứ bảy, CNHT tinh túy và sạch sẽ, ít tác động đến môi trường. Cuối cùng, CNHT sẽ là động lực thúc đẩy ý tưởng, sáng tạo, quyết đoán, chấp nhận rủi ro, sẵn sàng hợp tác, do CNHT đòi hỏi phải liên kết thành chuỗi doanh nghiệp.



Yêu cầu cấp bách

Ông Hayashida Takayuki, Cố vấn cao cấp Dự án “Hợp tác phát triển SME - CHHT” cho Việt Nam của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cảnh báo, tỷ lệ nội địa hoá linh kiện, nguyên liệu của các doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam mới dừng ở mức 24%, thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác trong khối ASEAN (Thái Lan 55,6%; Indonesia 44,3%; Malaysia 43,1%). Điều này thực sự đáng báo động khi hàng rào thuế quan trong khối ASEAN hoàn toàn được dỡ bỏ vào năm 2012, làn sóng nhập linh phụ kiện từ các quốc gia trong khu vực sẽ rất mạnh mẽ. Không những thế, khả năng các doanh nghiệp lắp ráp rời bỏ Việt Nam để đến với các quốc gia khác trong khu vực, hoặc sẽ nhập khẩu toàn bộ linh phụ kiện vào Việt Nam cũng cần được tính đến.



Công nghiệp hỗ trợ là một trong những nhân tố quyết định khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp. Nếu CNHT không đáp ứng được yêu cầu, các dự án đầu tư lớn sẽ không lựa chọn Việt Nam mà tìm đến các nước khác trong khu vực; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể ra đi khi lợi thế về nhân công giá rẻ và ưu đãi về hạ tầng, thuế... không còn. CNHT không đủ mạnh, nhiều ngành công nghiệp sẽ không được nuôi dưỡng tại Việt Nam. Trước tình hình đó, việc phát triển ngành CNHT đã trở nên ngày càng cấp bách nhằm đảm bảo việc đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp nước ngoài và phát triển công nghiệp chế tạo trong nước.



Cần thêm chính sách hỗ trợ



Nhận thức được tầm quan trọng của CNHT, ngày 22/2/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 12/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành CNHT. Theo đó, đầu tư vào CNHT phục vụ cho các ngành cơ khí chế tạo, điện tử tin học, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt - may, da giày và công nghiệp công nghệ cao sẽ được khuyến khích phát triển. Đây được coi là lời tuyên bố đầu tiên của Chính phủ Việt Nam trong việc ủng hộ sự phát triển của CNHT. Thế nhưng từ chính sách đến áp dụng vào thực tế có thể là một quãng đường dài. Các doanh nghiệp cho rằng, những chính sách hiện hành vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển của ngành CNHT. Do đó, việc nghiên cứu chính sách vẫn phải được tiếp tục song hành với những hành động cụ thể.



Theo ông Phan Đăng Tuất, phát triển CNHT vốn rất khó khăn vì nó vừa đòi hỏi công nghệ cao, đòi hỏi lao động chất lượng cao, song lại có rủi ro cao, bởi vậy chính sách cũng cần một lộ trình có tính khoa học cao, phù hợp với sự phát triển chung. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển CNHT cho thấy, thời gian đầu, vai trò của Chính phủ rất quan trọng, trước hết là việc hình thành các chính sách. Cần có các văn bản quy định về phẩm cấp kỹ thuật, đăng ký ngành nghề, thay đổi về hải quan, về chính sách thuế... Tiếp đến là các ưu đãi về tài chính, về đất đai, hạ tầng, về đầu tư, về nguồn nhân lực, rồi chính sách khuyến khích thành lập các doanh nghiệp sản xuất công ngiệp hỗ trợ, xây dựng các quỹ đặc thù riêng cho CNHT, hình thành tổ chức đầu mối để thực hiện sự quản lý nhà nước dẫn dắt liên kết các doanh nghiệp làm CNHT, phân xử các tranh chấp hợp đồng cung ứng, xây dựng ban hành cơ sở dữ liệu đầy đủ về CNHT... Tóm lại, cần phải ban hành nhiều đạo luật chứ không chỉ một đạo luật.



Trong nỗ lực phát triển CNHT, VCCI đang phối hợp với Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp quốc (UNIDO) triển khai hoạt động của Trung tâm Luật quan hệ đối tác phát triển thầu phụ ở Việt Nam. Trung tâm này đã thiết lập cơ sở dữ liệu của hơn 300 nhà cung cấp, thời gian tới sẽ bổ sung thêm khoảng 200 doanh nghiệp khác, đồng thời tiến hành tìm hiểu nhu cầu của các doanh nghiệp mua sản phẩm để kết nối với các doanh nghiệp cung ứng.



Anh Thi (Trích từ Thông tin tài chính số 24/2011)
Trả lời với trích dẫn


 


Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

vB code is Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở
Chuyển đến

SangNhuong.com


Mỹ thuật bởi thành viên - SangNhuong.com
Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 03:22 PM
© 2008 - 2026 Nhóm phát triển website và thành viên SANGNHUONG.COM.
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ nội dung bài viết của thành viên.